QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HÀN QUỐC TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 – TÁC GIẢ ThS. TRẦN NHƯ BẮC
Sau gần 30 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (22/12/1992), quan hệ hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc đã có những bước phát triển nhanh chóng. Đặc biệt, năm 2009 quan hệ hai quốc gia được nâng cấp lên thành “Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam – Hàn Quốc”. Hai bên đã thiết lập và tham gia nhiều cơ chế hợp tác song phương, đa phương trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, hợp tác kinh tế luôn là điểm sáng và là trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai nước từ trước tới nay. Hàn Quốc trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai và là nhà đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như các mối quan hệ khác, quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các vấn đề toàn cầu hiện hành, nhất là đại dịch COVID-19 trong những năm vừa qua. Bài viết này sẽ cung cấp những đánh giá chi tiết về tác động của COVID-19 đối với quan hệ thương mại giữa hai nước và đưa ra những triển vọng của mối quan hệ này trong thời gian tới.
TỪ KHÓA: Việt Nam-Hàn Quốc, thương mại, COVID-19
Nearly 30 years since the establishment of diplomatic relations (December 22, 1992), the cooperation relationship between Vietnam and the Republic of Korea has made rapid progress. Especially since the two countries upgraded the relations to “Strategic Cooperation Partnership” in 2009. The two sides have established and joined many bilateral and multilateral cooperation mechanisms in all fields. In particular, economic cooperation has always been a bright spot and an important pillar in the cooperation relationship between the two countries so far. South Korea has become the second-largest trading partner and the largest foreign investor (FDI) of Vietnam. However, like other relationships, the economic relationship between Vietnam and South Korea has been greatly influenced by current global issues, especially the COVID-19 pandemic in recent years. This article will provide a detailed assessment of the impact of COVID-19 on trade relations between the two countries and outline the prospects for this relationship in the coming time.
KEYWORDS: Vietnam, South Korea, trade, COVID-19
1. Đại dịch COVID-19 và những thách thức
COVID-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2 và các biến thể của nó đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên tại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc. COVID-19 sau đó đã lây lan sang 114 quốc gia và vùng lãnh thổ với 118 nghìn ca mắc và hơn 4 nghìn ca tử vong . Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi COVID-19 là “Đại dịch toàn cầu” (Branswell, Joseph, 2020). Sự bùng phát nhanh chóng của virus SARS-CoV-2 tác động mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đại dịch COVID-19, các quốc gia chịu tác động nặng nề cũng chính là những đối tác thương mại lớn của Việt Nam, trong đó có Hàn Quốc.
Ca dương tính đầu tiên với bệnh virus corona 2019 (COVID-19) tại Hàn Quốc được xác nhận và công bố vào ngày 20 tháng 1 năm 2020 – là một người phụ nữ nhập cư đến từ Trung Quốc đại lục. Tính đến hết ngày 28 tháng 12 năm 2020, Hàn Quốc đã ghi nhận tổng cộng khoảng hơn 20 nghìn ca nhiễm. Đại dịch đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế toàn cầu và Hàn Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù vậy, nền kinh tế Hàn Quốc vẫn tăng trưởng tốt hơn so với các nền kinh tế lớn khác trên thế giới do nước này áp dụng quản lý khủng hoảng toàn diện và kiểm soát dịch bệnh một cách tương đối hiệu quả. Sau khi giảm 0,9% vào năm 2020, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hàn Quốc nhanh chóng phục hồi và tăng 4% vào năm 2021, đạt mức cao nhất trong 11 năm nhờ xuất khẩu mạnh và tiêu dùng tư nhân. Xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 750,4 tỷ USD tăng 25,7%, phục hồi mạnh từ mức giảm 7,97% năm 2020, nhờ doanh số bán chất bán dẫn và các sản phẩm liên quan dầu mỏ ở nước ngoài tăng nhanh. Nhập khẩu tăng 27,48%, so với mức giảm 10,91% năm 2020, do lượng mua dầu thô tăng (World Bank, 2022) .
Hình 1.1: Thống kê số lượng ca nhiễm COVID-19 ở Việt Nam và Hàn Quốc

Nguồn: https://ourworldindata.org/coronavirus
Ở Việt Nam, vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, trường hợp đầu tiên nhiễm virus SARS-CoV-2 cũng đã được xác nhận tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việt Nam đã kiểm soát khá tốt bằng nhiều biện pháp trong đó có “thắt chặt” biên giới, thu hồi giấy phép hàng không và hạn chế thị thực. Tuy nhiên, đến tháng 7/2020, Việt Nam sau hơn 3 tháng không phát hiện thêm ca lây nhiễm trong cộng đồng, tưởng chừng như cơn bão đại dịch COVID-19 đã qua đi và nền kinh tế sẽ phục hồi sau giai đoạn đầy khó khăn đó thì những ca bệnh mới lại được phát hiện tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Nam và lan ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Đến tháng 9/2020, Việt Nam ghi nhận hơn 1 ngàn ca mắc COVID-19. Các doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn khi phải duy trì hoạt động sản xuất trong điều kiện chi phí sản xuất gia tăng nhanh chóng. Các yêu cầu cách ly, giãn cách xã hội làm cho các doanh nghiệp khó khăn trong tiếp cận khách hàng khiến lượng sản phẩm sản xuất ra không có nguồn tiêu thụ. Vì vậy, việc thực hiện mục tiêu tạo sản phẩm cạnh tranh đáp ứng nhu cầu cho hoạt động xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế là một thách thức không nhỏ.
Tác động từ đại dịch COVID-19 đã khiến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giảm mạnh từ 7% trong năm 2019 chỉ còn 2,91% trong năm 2020 và 2,58% trong năm 2021. Đây là con số thấp nhất kể từ năm 2000 (Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam luôn đạt trên 5% suốt 2 thập kỷ đầu thế kỷ 21). Mặc dù vậy, mức tăng trưởng này so với mức chung của thế giới là vẫn còn có thể chấp nhận được. Tính chung năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,54 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước; xuất khẩu tăng 19%, nhập khẩu tăng 26,5%. Trong đó, trao đổi thương mại với Hàn Quốc đóng góp khoảng 11,7% trong số tổng 240 quốc gia có buôn bán, trao đổi hàng hóa với Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2022).
Từ đầu năm 2022, mặc dù thế giới đã vượt qua được nhiều “làn sóng dữ”, đại dịch COVID-19 vẫn tiếp diễn phức tạp với hơn 615 triệu người bị lây nhiễm cùng với hơn 6,5 triệu người chết, trong đó Hàn Quốc có hơn 24 triệu ca nhiễm, 27,5 nghìn người chết; Việt Nam có 11,4 triệu ca nhiễm, hơn 43 nghìn người chết (Worldometers, 2022). Cùng với đó, nhiều biến động của nền kinh tế – chính trị toàn cầu cũng đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế của Việt Nam và Hàn Quốc. Cụ thể, cuộc xung đột giữa Nga – Ukraine bùng phát đã khiến giá dầu và giá hàng hóa cơ bản tăng mạnh, dẫn đến chi phí sản xuất tăng và làm đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu. Các biến động này đã ảnh hưởng không nhỏ đến các trao đổi thương mại. Tuy nhiên, nhờ vào nền tảng quan hệ vững chắc đã được thiết lập từ 30 năm trước và được phát triển theo thời gian, nên dù chịu nhiều tác động, có những lúc bị suy giảm, quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc vẫn đạt được những thành tựu đáng chú ý.
2. Trao đổi thương mại Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh đại dịch COVID-19
2.1 Tổng kim ngạch thương mại
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (22/12/1992), kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc từ 500 triệu USD đã tăng lên 65,7 tỷ USD trong năm 2018. Hàn Quốc trở thành đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Trung Quốc và Liên minh châu Âu) , là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 và là đối tác nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (Uyên Hương, 2021).
Trong bối cảnh thương mại thế giới có nhiều biến động phức tạp với sự leo thang căng thẳng trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung và quan hệ thương mại Nhật-Hàn, kim ngạch thương mại Việt Nam-Hàn Quốc đã tăng trưởng chậm lại. Năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Hàn Quốc đạt 66,7 tỷ USD, chỉ tăng 1,5% so với năm 2018. Sang năm 2020 khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới đã tác động tới cả hai nước, kim ngạch thương mại song phương giảm nhẹ, nhưng vẫn đạt 65,9 tỷ USD.
Hình 2.1: Thương mại Việt Nam – Hàn Quốc qua các năm

Nguồn: Infographic, số liệu Tổng cục thống kê, https://infographics.vn/interactive-quan-he-thuong-mai-viet-nam-han-quoc/104597.vna
Đặc biệt, năm 2021 dù đại dịch Covid-19 gây nhiều khó khăn, nhưng quan hệ hợp tác giữa hai nước tiếp tục duy trì được đà phát triển, thậm chí phát triển mạnh. Kim ngạch thương mại hai chiều đạt mức kỷ lục 78,1 tỷ USD, tăng 18,5% so với năm 2020 và 17,1% so với năm 2018, những thời điểm trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát. Giai đoạn 6 tháng đầu năm 2022, quan hệ thương mại Việt nam – Hàn Quốc tiếp đà phát triển, đạt 44,6 tỷ USD, tăng hơn 25% so với cùng kỳ năm trước, đưa đến triển vọng tích cực cho đến hết năm và kỳ vọng đạt được 100 tỷ USD tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm 2023 (Thu Phương, 2022). Điều này là nhờ hiệu quả từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa hai nước, như: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… đã tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa hai nước.
2.2 Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Hàn Quốc.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tăng lên nhanh chóng, từ 3,09 tỷ USD năm 2010 tăng lên đến 19,72 tỷ USD năm 2019. Do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, kim ngạch xuất khẩu năm 2020 của Việt Nam sang Hàn Quốc có bị giảm nhẹ so với năm 2019, nhưng vẫn đạt tới 19,1 triệu USD và tăng trưởng đạt xấp xỉ 22 tỷ USD trong năm 2021. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc trong 6 tháng đầu năm 2022 đạt 12,10 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước (số liệu Tổng cục thống kê).
Việt Nam xuất khẩu 40 nhóm mặt hàng sang Hàn Quốc, trong đó điện thoại, máy vi tính, linh kiện điện tử, hàng dệt may, hải sản, giầy dép, gỗ và các sản phẩm từ gỗ là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc. Trong các nhóm mặt hàng này thì tác động của COVID-19 rõ rệt nhất là đối với mặt hàng điện thoại, các loại linh kiện điện tử và hàng dệt may.
Bảng 2.1: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hàn Quốc
từ năm 2019-quý I/2022 (ĐVT: 1000USD)
| Năm 2019 | Năm 2020 | Năm 2021 | Quý I/ 2022 | |
| Điện thoại các loại và linh kiện | 5 145 155 | 4 577 513 | 4 796 413 | 1 451 125 |
| Hàng dệt may | 3 353 387 | 2 855 312 | 2 950 532 | 754 167 |
| Máy vi tính và linh kiện | 2 877 326 | 2 874 607 | 3 492 487 | 1 030 804 |
| Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác | 1 626 068 | 2 046 905 | 2 546 865 | 698 564 |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 792 556 | 818 263 | 888 205 | 248 849 |
| Hải sản | 781 892 | 770 896 | 808 405 | 203 542 |
| Giầy dép các loại | 604 867 | 548 582 | 503 328 | 148 786 |
Nguồn: Số liệu Tổng cục thống kê
Theo Bộ Công Thương, điện thoại các loại và linh kiện là mặt hàng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam qua từng năm. Nếu như năm 2010, xuất khẩu điện thoại và linh kiện mới chỉ chiếm 3,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thì đến năm 2018 chiếm 20,3% và luôn duy trì mức trên dưới 20% từ đó đến nay. Trong đó, Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu điện thoại và linh kiện lớn thứ 4 của Việt Nam (sau Trung Quốc, khối EU và Mỹ). Trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, giá trị xuất khẩu điện thoại và linh kiện sang Hàn Quốc chiếm hơn 26% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt hơn 5,15 tỷ USD vào năm 2019 (An Nghiệp, 2022).
Dưới ảnh hưởng của COVID-19, giá trị xuất khẩu nhóm mặt hàng này sang Hàn Quốc giảm còn lần lượt xấp xỉ 4,6 và 4,8 tỷ USD trong năm 2020 và năm 2021. Tuy nhiên trong 3 tháng đầu năm 2022, trên đà phục hồi kinh tế sau thời gian dài đại dịch COVID-19 hoành hành, điện thoại và linh kiện đã mang lại khoảng 1,5 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu và đến hết tháng 6 con số này đã đạt 2,78 tỷ USD, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước, ước đạt trên 5 tỷ USD, thậm chí là 6 tỷ USD cho đến cuối năm 2022 để giữ vững vị trí mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường Hàn Quốc.
Đối với ngành hàng dệt may, từ năm 2019 trở về trước, cùng với nhóm mặt hàng dẫn đầu về giá trị xuất khẩu là điện thoại và linh kiện thì hàng dệt may luôn đứng ở vị trí thứ 2 với giá trị cao. Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 2 tại thị trường Hàn Quốc, chỉ đứng sau Trung Quốc (tính đến năm 2018 thị phần chiếm lần lượt là 37% và 27%). Mặt khác, Hàn Quốc cũng đã vươn lên vị trí thứ 4 trong số các thị trường xuất khẩu của dệt may Việt Nam và tiến sát với thị trường Nhật Bản, đạt kim ngạch lên tới 3,35 tỷ USD trong năm 2019 (Fibre2Fashion Magazine, 2019).
Hình 2.2. Nhập khẩu hàng dệt may của Hàn Quốc theo các quốc gia, 2018

Nguồn:Fibre2fashion Magazine, https://www.fibre2fashion.com/industry-article/8434/strategic-advancement-of-south-korean-textile-and-apparel-industry
Trong năm 2020, dưới tác động của đại dịch COVID-19, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hàn Quốc chỉ đạt xấp xỉ 2,9 tỷ USD, giảm 500 triệu USD tương đương 15% so với năm 2019. Tuy nhiên, đây cũng là năm mà Việt Nam vượt Trung Quốc trở thành nhà cung cấp hàng dệt may số 1 tại Hàn Quốc ( Trung Quốc chỉ xuất khẩu 2,87 tỷ USD, giảm 18%) và hầu hết các đối tác về hàng dệt may của Hàn Quốc trong năm này đều đạt tăng trưởng âm, chẳng hạn Indonesia (-14,4%), Myanmar (-28,4%), Ấn Độ (-19,8%)… (Bộ Công thương, 2021).
Bảng 2.2. Nhập khẩu hàng may mặc của Hàn Quốc từ một số thị trường

Nguồn: Bộ Công thương, http://vsi.gov.vn/vn/tin-cong-nghiep-ho-tro/xuat-khau-hang-may-mac-sang-han-quoc-se-cai-thien-trong-thoi-gian-toi-c1id1713.html
Sang năm 2021, mặc dù kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phục hồi, nhu cầu nhập khẩu hàng may mặc được cải thiện. Nhưng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hàn Quốc cũng không có sự thay đổi đáng kể, tổng giá trị xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc đạt 2,95 tỷ USD (tăng 3% so với năm 2020) qua đó nhường vị trí số 2 trong giá trị xuất khẩu cho nhóm hàng máy vi tính và các loại linh kiện (nhóm mặt hàng này đạt giá trị xuất khẩu lên tới 3,5 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay)
Tính đến tháng 3 năm 2022, tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hàn Quốc vẫn duy trì mức tăng trưởng tương đối ổn định, đạt khoảng 754,2 triệu USD. Nhưng có thể nhận thấy, so với nhóm mặt hàng điện thoại và linh kiện thì sự phục hồi của xuất khẩu hàng dệt may sang Hàn Quốc là chưa cao. Điều này diễn ra tương tự với các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác là gỗ, các sản phẩm từ gỗ, hải sản và giày dép các loại…
2.3 Nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Hàn Quốc
Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Hàn Quốc tăng vọt từ năm 2017, đạt xấp xỉ 47 tỷ USD, tăng 14,8 tỷ USD so với năm 2016 và hơn gấp 5 lần so với năm 2010. Tuy nhiên giai đoạn 2017-2020, nhập khẩu hàng hóa từ Hàn Quốc không có nhiều sự thay đổi về giá trị do ảnh hưởng của những biến động trong đời sống kinh tế-chính trị thế giới, đặc biệt là sự bùng phát của đại dịch COVID-19. Năm 2020 là năm ghi nhận sự tàn phá nặng nề của COVID-19 đối với nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng, nhập khẩu hàng hóa từ Hàn Quốc đạt 46,91 tỷ USD, giảm 150 triệu USD so với năm 2019. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhảy vọt về nhập khẩu hàng hóa từ Hàn Quốc lại được ghi nhận trong năm 2021, khi Việt Nam và Hàn Quốc cơ bản khống chế được COVID-19 bằng việc triển khai tiêm vaxin trên diện rộng. Hàn Quốc tiếp tục là đối tác nhập khẩu hàng hóa lớn thứ 2 của Việt Nam với tổng giá trị nhập khẩu đạt 56,31 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm 2020 và cao nhất từ trước đến nay (Biểu đồ 1).
Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc rất đa dạng với hơn 44 nhóm mặt hàng, trong đó chủ yếu là máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị, điện thoại, linh kiện điện tử, vải, xăng dầu, chất dẻo nguyên liệu, sản phẩm từ chất dẻo, sắt thép, linh kiện phụ tùng ô tô… Đạt giá trị cao nhất là nhóm mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm tới hơn 35% tổng kim ngạch nhập khẩu trong những năm gần đây, ngay trong những thời điểm khó khăn nhất do dịch bệnh COVID-19 gây ra.
Bảng 2.3: Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc
từ năm 2019 đến quý I/2022 (ĐVT: 1000 USD).
| 2019 | 2020 | 2021 | Quý I/2022 | |
| Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện | 16 843 107 | 17 138 436 | 20 285 332 | 6 426 469 |
| Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác | 6 163 057 | 6 003 281 | 6 112 775 | 1 672 831 |
| Điện thoại các loại và linh kiện | 5 922 052 | 7 763 600 | 10 729 085 | 2 887 004 |
| Vải các loại | 2 023 341 | 1 624 166 | 1 796 764 | 436 205 |
| Xăng dầu các loại | 1 846 320 | 1 025 803 | 989 584 | 1 015 782 |
| Sản phẩm từ chất dẻo | 1 791 443 | 1 770 348 | 1 649 291 | 380 145 |
| Chất dẻo nguyên liệu | 1 609 555 | 1 547 251 | 2 339 499 | 802 875 |
| Kim loại thường khác | 1 478 944 | 1 511 349 | 1 829 007 | 473 465 |
| Sắt thép các loại | 1 409 223 | 1 280 371 | 1 592 164 | 425 550 |
| Linh kiện, phụ tùng ô tô | 1 145 720 | 1 085 188 | 1 330 359 | 348 327 |
| Sản phẩm hóa chất | 713 689 | 705 670 | 1 318 524 | 359 886 |
| Hóa chất | 434 808 | 434 025 | 566 999 | 162 209 |
Nguồn: Số liệu Tổng cục thống kê
Theo báo cáo của Tổng cục hải quan, năm 2019 Việt Nam nhập khẩu hơn 16,8 tỷ USD các mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ Hàn Quốc; đến năm 2020 là 17,14 tỷ USD và xấp xỉ 20,3 tỷ USD trong năm 2021. Sang năm 2022, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục dẫn đầu nhóm nhập khẩu nhiều, tính đến tháng 3 giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng này đã tăng lên 6,4 tỷ USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ. Hàn Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu nhóm mặt hàng này lớn thứ hai, chỉ sau Trung Quốc với mức chênh lệch không đáng kể.
Hình 2.3: Các thị trường nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2022.

Nguồn: Hải quan Online, https://haiquanonline.com.vn/chi-50-ty-usd-nhap-khau-may-vi-tinh-san-pham-dien-tu-va-linh-kien-165808.html
Có thể thấy, kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, cùng với tác động từ Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng chuyển mạnh nhập khẩu các mặt hàng điện tử từ Trung Quốc sang Hàn Quốc. Đây cũng là kết quả của việc ngày càng nhiều tập đoàn Hàn Quốc đầu tư và đặt cơ sở sản xuất tại Việt Nam, trong đó kể đến hai tập đoàn lớn là Samsung và LG; Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều cam kết xóa bỏ thuế quan đối với Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc. Với mặt hàng điện thoại và linh kiện, sự thay đổi này diễn ra rõ rệt nhất.
Trong năm 2019, Việt Nam nhập khẩu điện thoại và linh kiện nhiều nhất từ Trung Quốc đạt xấp xỉ 7,6 tỷ USD, chiếm khoảng 54%, trong khi đó từ Hàn Quốc ở vị trí thứ 2 là hơn 5,9 tỷ USD chiếm khoảng 39%. Tuy nhiên, sau khi COVID-19 bùng phát, tỷ lệ này đã có sự thay đổi rất đáng kể. Trong năm 2020, Việt Nam đẩy mạnh nhập khẩu điện thoại và các loại linh kiện từ Hàn Quốc, giá trị nhập khẩu đạt gần 7,8 tỷ USD (tăng 32%) trong khi đó nhập khẩu nhóm ngành hàng này từ Trung Quốc không tăng nhiều, cũng đạt xấp xỉ 7,8 tỷ USD (tăng chưa đầy 3%). Và đặc biệt, sang năm 2021, Hàn Quốc đã chính thức trở thành thị trường cung cấp điện thoại và linh kiện lớn nhất của Việt Nam khi giá trị nhập khẩu đạt hơn 10,7 tỷ USD (tăng 37% so với năm 2020 và hơn 81% so với năm 2019). Còn đối với Trung Quốc, mặc dù giá trị nhập khẩu cũng gia tăng đáng kể lên 9,2 tỷ USD nhưng chỉ đứng ở vị trí thứ 2. Những số liệu của 3 tháng đầu năm 2022 cũng cho thấy, Hàn Quốc đang trở thành nhà cung cấp điện thoại và linh kiện số 1 của Việt Nam với giá trị nhập khẩu của Việt Nam đạt 2,9 tỷ USD, tăng hơn 800 triệu USD, tương đương gần 40% so với cùng kỳ năm 2021 (Theo số liệu của Tổng cục thống kê).
Mặt khác, các nhóm mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc có mức tăng trưởng âm bao gồm xăng dầu, và các nguyên liệu sản xuất như sắt thép, chất dẻo, vải các loại… Trong đó đáng kể nhất là mặt hàng xăng dầu đã giảm 44,3% so với năm 2019 còn 1,03 tỷ USD trong năm 2020 và tiếp tục giảm còn 989,6 triệu USD trong năm 2021. Điều này xuất phát từ nhu cầu sử dụng xăng dầu giảm mạnh ở Việt Nam khi chính phủ thực hiện các biện pháp “đóng cửa” khoanh vùng dập dịch COVID-19. Tuy nhiên, mức nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc lại tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2022 do những biến động của thị trường xăng dầu trong nước và thế giới với cuộc xung đột Nga-Ukraine diễn ra gần như là ngay sau thời điểm dịch COVID-19 được khống chế cơ bản. Chỉ riêng 3 tháng đầu năm 2022, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 1 tỷ USD xăng dầu từ Hàn Quốc, tăng gần 3% so với cả năm 2021.
Đối với các nhóm ngành hàng nguyên liệu, tác động của COVID-19 cũng khá rõ rệt. Giá trị nhập khẩu của các nhóm ngành hàng này đều sụt giảm trong năm 2020 khi cả Việt Nam và Hàn Quốc đang “loay hoay” đối phó với COVID-19, như vải các loại giảm 20%, sắt thép các loại giảm 8,6%, chất dẻo giảm 3,7%… Nhưng sau đó kim ngạch trao đổi các mặt hàng này đã tăng trở lại trong năm 2021 khi những biện pháp phòng chống COVID-19 cho thấy hiệu quả. Chẳng hạn, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đã tăng tới 51%, đạt hơn 2,3 tỷ USD; sắt thép các loại tăng 24%, đạt 1,59 tỷ USD; kim loại thường khác tăng 21% đạt 1,83 tỷ USD; vải các loại tăng 11%, đạt 1,79 tỷ USD… Số liệu của 3 tháng đầu năm 2022 cũng cho thấy xu hướng nhập khẩu tăng của các mặt hàng này (Bảng 2.3).
2.4 Vấn đề thâm hụt thương mại
Vấn đề chính của Việt Nam khi trao đổi thương mại với Hàn Quốc là nhập siêu lớn. Kim ngạch nhập siêu từ Hàn Quốc trong năm 2019 là 27,2 tỷ USD, chiếm tới 40,8% tổng kim ngạch. Thời điểm COVID-19 bùng phát ở Việt Nam năm 2020, thâm hụt thương mại của Việt Nam có xu hướng giảm, còn 1,2 tỷ USD so với 2,2 tỷ USD ở tháng 3, đồng thời lần lượt là 2,3 và 2,6 của những tháng trước đó. Con số này cũng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2019 (2,1 tỷ USD) khi đại dịch COVID-19 chưa tác động.
Hình 2.4. Thâm hụt thương mại qua các tháng của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Hàn Quốc năm 2020 (ĐVT: 1000 USD).

Nguồn: Số liệu Tổng cục thống kê
Tuy nhiên, giá trị nhập siêu sau đó lại tăng. Đến hết 2021, tổng thâm hụt thương mại của Việt Nam trong trao đổi với Hàn Quốc đạt gần 34,3 tỷ USD, chiếm gần 44% tổng kim ngạch. Xu hướng nhập siêu tiếp tục gia tăng trong những tháng đầu của năm 2022. Riêng 3 tháng đầu năm 2022, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Hàn Quốc đã vào khoảng 10,7 tỷ USD. Có nghĩa rằng, COVID-19 có tác động làm giảm thâm hụt thương mại của Việt Nam với Hàn Quốc, nhưng chỉ là tác động nhất thời, xu hướng tăng cường nhập khẩu vẫn là chủ đạo trong mối quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc (Hình 2.5).
Hình 2.5. Xu hướng thâm hụt thương mại của Việt Nam
trong trao đổi với Hàn Quốc (%)

Nhìn chung, việc nhập siêu lớn với Hàn Quốc không hẳn là bất lợi mà Việt Nam gặp phải, bởi cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của hai nước có sự khác biệt và bổ trợ cho nhau. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng điện tử gia công, các sản phẩm hoàn thiện hay nguyên liệu sản xuất; trong khi đó chủ yếu nhập khẩu các loại linh kiện lắp ráp và các loại máy móc chuyên dụng… Một ví dụ để thấy rõ là với nhóm hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng. Đây đều là những mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu chính. Nhưng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu thiết bị điện dùng cho điện thoại hữu tuyến, biến thế điện, động cơ điện và máy phát điện.. Trong khi đó Việt Nam nhập khẩu dụng cụ cho ngành y, ắc quy, thiết bị đóng ngắt mạch điện, máy tiện kim loại, các loại máy ủi xúc dọn… (Bộ Công thương, 2022)
3. Kết luận
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc vẫn phát triển mạnh nhờ vào hiệu lực từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương, cũng như truyền thống đã có từ lâu trong mối quan hệ của hai nước.
COVID-19 rõ ràng có tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước, nhưng chỉ là tác động nhất thời trong những thời điểm “căng go” của đại dịch. Mặt khác, dịch bệnh còn trở thành yếu tố thôi thúc việc đẩy mạnh quan hệ song phương nói chung và quan hệ thương mại nói riêng để đối phó với tình trạng trì trệ và phát triển kinh tế song hành với chống dịch.
Nhập siêu lớn là vấn đề chính trong quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc và ít nhiều chịu tác động bởi đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, điều này không hẳn là trở ngại, do cơ cấu ngành hàng của hai nước có sự khác biệt và bổ sung cho nhau.
Dịch COVID-19 vẫn đang tiếp diễn và chưa có dấu hiệu chấm dứt, nó vẫn còn tiếp tục tác động tới tình hình kinh tế của Việt Nam, Hàn Quốc và mối quan hệ thương mại giữa hai nước. Do đó, để đạt được hiệu quả cao hơn và hướng tới những mục tiêu lâu dài, Việt Nam và Hàn Quốc cần chú trọng đến công tác phòng chống dịch, tăng cường trao đổi thông tin, áp dụng linh hoạt các phương thức trao đổi và thanh toán mới cho phù hợp với tình hình dịch bệnh hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Helen Branswell, Andrew Joseph (2020), WHO declares the coronavirus outbreak a pandemic, https://www.statnews.com/2020/03/11/who-declares-the-coronavirus-outbreak-a-pandemic/
- The World Bank (2022), Exports of goods and services (current US$) – Korea, Rep, https://data.worldbank.org/indicator/NE.EXP.GNFS.CD?locations=KR
- The World Bank (2022), Imports of goods and services (current US$) – Korea, Rep, https://data.worldbank.org/indicator/NE.IMP.GNFS.CD?locations=KR
- Fibre2Fashion Magazine (2019), Strategic Advancement of South Korean Textile and Apparel Industry, https://www.fibre2fashion.com/industry-article/8434/strategic-advancement-of-south-korean-textile-and-apparel-industry
- Worldometers (2022), Reported Cases and Deaths by Country or Territory, https://www.worldometers.info/coronavirus/
- An Nghiệp (2022), Xuất nhập khẩu điện thoại và linh kiện chiếm tỷ trọng cao, bất chấp ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-cong-nghiep/anh-huong-boi-dich-covid-19-hoat-dong-xuat-nhap-khau-dien-thoai-va-linh-kien-chiem-ty-trong-cao.html
- Bộ Công thương (2021), Xuất khẩu hàng may mặc sang Hàn Quốc sẽ cải thiện trong thời gian tới, http://vsi.gov.vn/vn/tin-cong-nghiep-ho-tro/xuat-khau-hang-may-mac-sang-han-quoc-se-cai-thien-trong-thoi-gian-toi-c1id1713.html
- Bộ Công thương (2022), Xuất nhập khẩu máy móc và thiết bị của Việt Nam tăng cao, triển vọng cho ngành công nghiệp hỗ trợ, https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-cong-nghiep/xuat-nhap-khau-may-moc-va-thiet-bi-cua-viet-nam-tang-cao-trien-vong-cho-nganh-cong-nghiep-ho-tro.html
- Uyên Hương (2021), Việt Nam, Hàn Quốc hướng tới kim ngạch thương mại 100 tỷ USD, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-han-quoc-huong-toi-kim-ngach-thuong-mai-100-ty-usd/760161.vnp
- Thu Phương (2022), Việt Nam – Hàn Quốc: Thúc đẩy hợp tác, sớm hoàn thành kim ngạch thương mại song phương 100 tỷ USD năm 2023, https://congthuong.vn/viet-nam-han-quoc-thuc-day-hop-tac-som-hoan-thanh-kim-ngach-thuong-mai-song-phuong-100-ty-usd-nam-2023-176348.html
11. Tổng cục thống kê (2022), Vượt qua khó khăn, xuất, nhập khẩu năm 2021 về đích ngoạn mục, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/vuot-qua-kho-khan-xuat-nhap-khau-nam-2021-ve-dich-ngoan-muc/
